14/10/2019

Soy là gì ? Ăn nhiều đậu nành có tốt không

Đậu nành là gì?
đậu nành là gì
Đậu nành có nguồn gốc từ đậu tương, một loại cây họ đậu có nguồn gốc từ Đông Á hiện được sản xuất với quy mô lớn hơn nhiều ở Hoa Kỳ.

Vào những năm 1920, đậu tương được thành lập như một loại cây trồng thương mại ở Mỹ , nhưng nó không thực sự được đưa vào chế độ ăn kiêng của Mỹ cho đến Thế chiến II, khi chất béo và dầu nhập khẩu bị hạn chế do các tuyến thương mại bị gián đoạn. Đến thập niên 1960, Hoa Kỳ đã sản xuất 75% nguồn cung của thế giới.

Soy là gì ? Ăn nhiều đậu nành có tốt không

Bởi vì đậu nành sản xuất giá rẻ như thế nào và vì nhiều đặc tính chức năng của nó, đậu nành đã được đưa vào nhiều loại thực phẩm chế biến. Vì vậy, ngay cả khi bạn không đi tìm nó một cách cụ thể, có thể bạn sẽ tiêu thụ đậu nành dưới dạng này hay dạng khác.

Đậu nành có thể được chế biến thành bột protein đậu nành, được chế biến thành một loại nước giải khát như sữa đậu nành hoặc biến thành sợi đậu nành nhiều xơ hơn. Bản thân đậu tương phải được nấu chín khi chế biến, nếu không nó có thể gây độc khi tiêu thụ.

Chất dinh dưỡng có trong đậu nành
chất dinh dưỡng trong đậu nành
Trước khi chúng ta đi sâu vào những tranh cãi xung quanh lợi ích và sự nguy hiểm của đậu nành, chúng ta hãy tìm hiểu chính xác những gì bên trong mỗi hạt đậu.

Đậu nành chứa một lượng lớn:

Mangan
Selen
Kali
Phốt pho
Molypden
Magiê
Canxi
Đồng
Vitamin B6
Folate
Bàn là
Vitamin B2
Thiamin
Vitamin K
Một khẩu phần đậu nành 3,5 ounce chứa 173 calo với 9 gram chất béo, 10 gram carbs, 6 gram chất xơ, cũng như 17 gram protein.

Đậu nành cũng chứa một số chất dinh dưỡng ít được biết đến chỉ được công nhận trong vài thập kỷ qua vì lợi ích của chúng, bao gồm:

Flavonoid
Isoflavonoid
phenolic acid
Phytoalexin
Phytosterol
Protein và peptide
Saponin
Lợi ích của đậu nành
Tại thời điểm này trong nghiên cứu khoa học, đã có nhiều, rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên đậu nành để xác định lợi ích sức khỏe của nó. Và thành thật mà nói, đó là khá nhiều rửa.

Ngăn ngừa ung thư
ngăn ngừa ung thư
Nhiều nghiên cứu cho thấy bằng chứng ủng hộ vai trò của toàn bộ thực phẩm đậu nành trong chế độ ăn kiêng được xây dựng để ngăn ngừa ung thư. Genistein , một trong những chất phytonutrients isoflavonoid có trong đậu nành, thường được tập trung nhiều nhất trong các nghiên cứu này.

Genistein có thể làm tăng hoạt động của một protein ức chế khối u gọi là p53 . Khi p53 trở nên tích cực hơn, nó có thể khuyến khích sự chết tế bào (apoptosis) trong các tế bào ung thư và ngăn chặn các tế bào ung thư sản xuất tế bào mới.

Isoflavonoid này cũng đã được chứng minh là ngăn chặn hoạt động hình thành khối u , đặc biệt là trong trường hợp ung thư vú và tuyến tiền liệt.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là lượng genistein cần thiết để kích hoạt các tác dụng chống ung thư này có phần cao - cao hơn nhiều so với lượng được cung cấp trong một khẩu phần đậu nành thông thường.

Trong số những phụ nữ bị ung thư vú, tiêu thụ đậu nành có liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ tử vong và tái phát. Một nghiên cứu khác cho thấy đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết ở phụ nữ, nhưng không phải ở nam giới.

Lợi ích cho tim mạch
Lợi ích cho tim mạch
Một số nghiên cứu đã cho thấy khả năng của đậu nành trong việc tác động đến chất béo trong máu, dẫn đến giảm cholesterol LDL vừa phải. Các nghiên cứu khác đã chứng minh những tác động tích cực như giảm triglyceride và cholesterol toàn phần, cùng với việc tăng cholesterol HDL tốt.

Phytonutrients được tìm thấy trong đậu nành gọi là Soyasaponin đã thu hút sự chú ý đáng kể từ các nhà nghiên cứu vì mối liên hệ của chúng với lợi ích tim mạch.

Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng những Soyasaponin này có thể làm giảm tốc độ hấp thu cholesterol từ đường tiêu hóa và làm tăng bài tiết axit mật, cả hai đều có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác nhận xem liệu Soyasaponin có thực sự là một phần tốt cho sức khỏe của chế độ ăn uống cân bằng hay không.

Sức khỏe của xương
sức khỏe của xương
Một nghiên cứu được công bố trên Archives of Internal Medicine năm 2005 cho thấy rằng ăn đậu nành có liên quan đến nguy cơ gãy xương thấp hơn đáng kể, đặc biệt là ở những phụ nữ đã mãn kinh .

Hơn 24.000 phụ nữ mãn kinh ở Trung Quốc đã được nghiên cứu và sau 4 năm rưỡi, các nhà nghiên cứu xác định rằng những phụ nữ có mức tiêu thụ đậu nành cao nhất có khả năng bị gãy xương thấp hơn 35-37% so với phụ nữ trong nhóm có mức tiêu thụ thấp nhất.

Nhiều sản phẩm đậu nành có hàm lượng canxi cao tự nhiên , tác nhân đông máu giúp xây dựng xương chắc khỏe. Đậu nành cũng chứa magiê, cũng rất quan trọng đối với sức khỏe của xương.

Mặc dù nghiên cứu này và các nghiên cứu khác cho thấy protein đậu nành có lợi cho sức khỏe xương, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để tìm hiểu xem những lợi ích này là do chính protein đậu nành hay các yếu tố dinh dưỡng đóng góp khác.

Nguy cơ tiềm ẩn của đậu nành
Nhiều người quan tâm đến sức khỏe cộng đồng đã bắt đầu đặt câu hỏi về sự phổ biến của đậu nành trong chế độ ăn uống hiện đại.

Nhưng bằng chứng nào chúng ta phải đề xuất rằng đậu nành thực sự có thể gây hại?

Tác dụng nội tiết tố ở nam giới
tác dụng nội tiết tố
Đậu nành chứa một lượng lớn isoflavone có chức năng như phytoestrogen . Các hợp chất này có thể kích hoạt các thụ thể estrogen trong cơ thể con người.

Những isoflavone này được phân loại là chất gây rối loạn nội tiết vì những cách chúng can thiệp vào chức năng bình thường của hormone của cơ thể bạn. Khi hoạt động như phytoestrogen, estrogen tự nhiên của cơ thể bạn không thể liên kết với các thụ thể và dẫn đến tăng hoạt động estrogen.

Điều này có thể dẫn đến một số tác động tiêu cực ở nam giới như gynecomastia , giảm hoặc dao động trong ham muốn tình dục, hoặc không dung nạp đường sữa .

Các nghiên cứu về chuột đã cho thấy việc tiếp xúc với isoflavone đậu nành trong bụng mẹ có thể dẫn đến sự phát triển tình dục bất lợi ở nam giới.

Trong một nghiên cứu , những người đàn ông tiêu thụ nhiều đậu nành nhất trong khoảng thời gian 3 tháng được chứng minh là có số lượng tinh trùng thấp nhất - mặc dù điều này chỉ được báo cáo là một mối tương quan thống kê và không phải là bằng chứng chứng minh.

Ung thư vú
ung thư vú
Hoạt động estrogen của isoflavone trong đậu nành là lý do tại sao isoflavone thường được sử dụng thay thế cho các loại thuốc dùng để làm giảm các triệu chứng mãn kinh. Nhưng, điều này thường không được quy định bởi các chuyên gia y tế. Isoflavone đã thực sự được chứng minh trong các nghiên cứu trên động vật để gây ung thư vú .

Một nghiên cứu đã chia 48 phụ nữ thành hai nhóm. Một nhóm ăn chế độ ăn bình thường trong khi nhóm còn lại bổ sung 60 gram protein đậu nành. Nhóm tiêu thụ protein đậu nành có sự gia tăng đáng kể sự tăng sinh của các tế bào biểu mô ở vú. Đây là những tế bào có khả năng trở thành ung thư.

Một nghiên cứu tương tự khác đã chứng minh số lượng tế bào biểu mô vú tăng 29,2% ở 7 trong số 24 phụ nữ khi họ bổ sung protein đậu nành.

Các nghiên cứu khác, nhỏ hơn cho thấy đậu nành gây ra sự gián đoạn nhẹ của chu kỳ kinh nguyệt, dẫn đến kinh nguyệt bị trì hoãn hoặc kéo dài.